Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Tuesday
Jan 27th 2015
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME ƠN GỌI (VOCATION)

Ơn Gọi (Vocation)

Kinh dành cho Linh mục đọc Trước và Sau khi Giải tội

KINH ĐỌC TRƯỚC KHI GIẢI TỘI

Lạy Chúa, xin ban cho con sự khôn ngoan hằng ngự bên toà Chúa, để con biết dùng sự công bằng mà xét xử dân Chúa và sự công tâm để xét xử người nghèo của Chúa. Xin dạy con biết sử dụng chìa khoá Nuớc Trời, để không mở cho người đáng bị đóng và không đóng cho người đáng được mở. Xin làm cho ý hướng của con nên thanh sạch, lòng nhiệt thành của con thật chân tình, đức bác ái của con thành kiên nhẫn và việc con làm được kết quả.

Read more...

Bài Giảng Lễ Kính Trọng Thể Danh Thánh Chúa Giêsu, Tước Hiệu Dòng Tên

Anh em thân mến,
Trong ngày lễ kính Danh Thánh Chúa Giêsu, tôi xin chia sẻ ba điều:

1. Giêsu là tên do Thiên Chúa đặt cho Đấng Cứu Thế
Các trình thuật về thời thơ ấu nói lên rất rõ ý nghĩa việc đặt tên Giêsu cho con trẻ mà Đức Maria sinh ra.
- Trong cuộc truyền tin cho Đức Maria, Thiên sứ nói: Bà sẽ thụ thai và sinh một con trai và sẽ đặt tên là Giêsu (Lc1,31).
- Trong cuộc truyền tin cho ông Giuse, Thiên sứ nói: Bà (Maria) sẽ sinh con trai và ông sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi của họ (Mt1,21).
Mt ghi thêm rằng “đến khi bà sinh con thì ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt1,25).
- Hôm nay, Tin Mừng Luca thuật lại biến cố xảy ra sau khi bà Maria sinh con được đủ 8 ngày: “người ta” đặt tên cho con trẻ là Giêsu, chính là tên mà Sứ thần đã đặt trước khi hài nhi thành thai (Lc2,21).
Với việc đặt tên này, chúng ta đọc được điều gì?

Read more...

NIỀM VUI CỦA TÔI HÔM NAY

1. Nhiều lúc, tôi cảm thấy mình như tụt dốc trầm trọng. Đau đớn, mỏi mệt, chán nản, buồn lo, sợ hãi, tất cả như những đợt sóng thay nhau đổ vào hồn tôi.

Tôi phải phấn đấu với chính mình để đi nốt quãng đời còn lại. Tôi cầu nguyện không ngừng. Tôi vững tin vào lời Chúa hứa: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Read more...

NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH

1. Tôi ở Long Xuyên, trong Tòa Giám Mục, đã hơn 40 năm rồi. Nhưng khi về già, nhiều lúc tôi cảm thấy rất thấm thía một lời Kinh Thánh nói về thân phận con người sống đức tin. Lời đó là: “Tôi xưng mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất này” (Dt 11,13).

Read more...

Tinh Yeu La Su Menh Cua Chung Ta - Bai Hai

 

TÌNH YÊU LÀ SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TA

BÀI HAI

SỨ MỆNH YÊU THƯƠNG

 

Thiên Chúa thực hiện công trình của Ngài qua chúng ta. Chúng ta có một sứ mệnh. Chúng ta đang sống trong một thế giới với một cùng đích, đó là đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, và tỏ lộ tình yêu ấy cho những người khác. Thiên Chúa tìm cách cứu chữa một thế giới đã đổ vỡ. Ngài mời gọi chúng ta làm chứng và giúp thực hiện công trình ấy.

Thánh Kinh giải thích và định hình cho ý nghĩa của tình yêu

21. Lịch sử bắt đầu khi Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ theo hình ảnh của Ngài. Theo dòng lịch sử, Thiên Chúa gọi và hình thành một dân tộc. Ngài ký kết một giao ước với chúng ta, đầu tiên qua dân Israel, và sau đó qua Đức Kitô và Hội Thánh. Trong mối quan hệ này, Thiên Chúa dạy chúng ta biết yêu thương như Ngài đã yêu thương.

22. Nói cách khác, vì đã được tạo dựng cho hiệp thông, nên chúng ta nhận biết rằng tình yêu là sứ vụ của chúng ta. Tặng phẩm cuộc sống Chúa ban cho ta có trước và định hình cho hành động cũng như cách sống của chúng ta. Tóm lại, “cách thức Thiên Chúa yêu thương trở thành thước đo cho tình yêu con người”[1].

23. Để sống theo cách ấy đòi hỏi ta phải khiêm hạ. Điều này đòi hỏi chúng ta phải biết làm cho con tim chúng ta đồng hình đồng dạng với Chúa và nhìn thế giới qua lăng kính của Ngài. Con đường của Chúa thì tốt đẹp hơn, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng hơn.

24. Thánh Kinh đầy dẫy những chuyện minh họa Tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa là một người cha nhân từ dang tay đón đứa con hoang đàng trở về và mở tiệc ăn mừng (Lc 15,11-32). Thiên Chúa là một mục tử đi tìm con chiên lạc (Lc 15,3-7). Thiên Chúa là một người mẹ an ủi vỗ về con cái mình (Is 66,13). Thiên Chúa là một người bạn dám hi sinh mạng sống mình vì bạn hữu, và biết khóc thương khi bạn hữu gặp sầu buồn (Ga 11,35). Thiên Chúa là một người thầy, dạy ta biết yêu thương và phục vụ nhau như những người lân cận (Mt 22,39). Thiên Chúa là một người làm vườn, chăm sóc chúng ta cho đến khi sinh hoa kết quả (Ga 15,1). Thiên Chúa là một ông vua mời gọi chúng ta vào dự tiệc cưới của con Ngài (Mt 22,1-14). Thiên Chúa nghe lời kêu van của anh mù và đã dừng lại hỏi anh: Anh muốn tôi làm gì cho anh? (Mc 10,46-52). Thiên Chúa ân cần tiếp đón, lòng đầy xót thương đối với đoàn dân Ngài đang đói khát, ban cho họ của ăn no đầy (Mt 14,13-21)[2], và hiến ban chính mình cho họ (Mt 26,16).

Hôn nhân là một hình ảnh cốt yếu trong Thánh Kinh diễn tả tình yêu Thiên Chúa

25. Tất cả những hình ảnh trên đây và nhiều hình ảnh khác nữa giúp chúng ta khám phá được chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa. Những hình ảnh ấy làm nổi bật thứ tình yêu mà chúng ta được mời gọi để làm chứng bằng cuộc sống riêng của mỗi người chúng ta. Thế nhưng, như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhận xét, có một hình ảnh cơ bản làm bối cảnh cho các tình yêu khác Thiên Chúa:

“Thiên Chúa yêu thương dân Ngài”. Thật vậy, mạc khải Thánh Kinh trên hết diễn tả một câu chuyện tình, chuyện giao ước Thiên Chúa với loài người. Đây là lý do tại sao câu chuyện đời sống và tình yêu kết hợp giữa một người nam và một người nữ trong giao ước hôn nhân được Thiên Chúa sử dụng như một biểu tượng của lịch sử cứu độ[3].

26. Hình ảnh hôn nhân là trung tâm trong việc diễn tả giao ước của Thiên Chúa với dân Israel, và về sau còn với Hội thánh. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI dạy: “Hôn nhân dựa trên tình yêu độc nhất và dứt khoát trở thành biểu tượng cho tương quan giữa Thiên Chúa và dân Ngài, và ngược lại cũng vậy”[4]. Giao ước của Thiên Chúa là một chủ đề trung tâm của Thánh Kinh, và hôn nhân là ẩn dụ được ưa thích nhất của Sách Thánh dùng để diễn tả tương quan của Thiên Chúa với nhân loại. Cũng những ý  tưởng đó, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khi còn là Tổng giám mục Munich đã giải thích:

Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để bước vào lịch sử tình yêu với nhân loại. Ngài tạo dựng thế giới để tình yêu được hiện hữu. Phía sau điều này là những lời lẽ của Israel dẫn thẳng đến Giao ước mới …. Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ để có thể trở thành một người phàm và để tuôn đổ tình yêu của Ngài trên chúng ta và để mời gọi chúng ta yêu thương đáp lại[5].

27. Hình ảnh hôn nhân đó đã bắt đầu có từ trong Cựu ước. Từ đó chúng ta được biết rằng Thiên Chúa yêu thương ta cách thân tình, dịu dàng và khát khao. “Các Tiên tri, đặc biệt là Hôsê và Êdêkiel, diễn tả niềm say mê của Thiên Chúa đối với dân Ngài, qua việc sử dụng cách bạo dạng những hình ảnh yêu đương”[6]. Trong sách tiên tri Hôsê, Thiên Chúa hứa sẽ “quyến rũ” Israel, thổ lộ “tâm tình với nàng”, cho đến khi nàng “đáp lại như buổi thanh xuân” và sẽ gọi Người: “Mình ơi” (Hs 2,16-18). Trong sách Êdêkiel, Thiên Chúa nói với Israel bằng một ngữ ảnh hết sức nhạy cảm: “Ta đã lấy vạt áo của Ta phủ lên để che đậy sự trần trụi của ngươi. Ta đã thề nguyền và lập giao ước với ngươi, sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng, và ngươi thuộc về Ta. Ta đã lấy nước tắm rửa … rồi xức dầu thơm cho ngươi…. Ngươi đã nên xinh đẹp tuyệt trần và xứng ngôi hoàng hậu” (Ed 16,8-13)[7]. Chúng ta cũng thấy kiểu nói tương tự như thế trong sách Isaia[8], Giêrêmia[9] và Thánh vịnh[10]. Sách Diễm ca cũng lấp lánh hằng trăm bài thuyết giáo sử dụng hình ảnh hôn nhân để giải thích tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa đối với dân Ngài.

Thánh Kinh không ủy mị nói về tình yêu hôn nhân

28. Cuộc hôn nhân giữa Thiên Chúa và dân Ngài có thể không vững bền. “Quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Israel được diễn tả bằng những ẩn dụ như đính hôn và kết hôn”, do đó khi dân Chúa phạm tội, tính thất thường của chúng ta trở thành một thứ tội “ngoại tình và đàng điếm”[11]. Trong sách tiên tri Hôsê, tình yêu của Thiên Chúa dành cho Israel đặt Ngài vào vị thế của một đức lang quân bị phản bội bởi một người vợ bất trung. Như Thiên Chúa nói với Hôsê: “Ngươi cứ đi yêu người đàn bà đang có tình nhân và đang ngoại tình, cũng như Đức Chúa yêu thương con cái Israel, trong khi chúng lại quay lưng đi theo các thần khác” (Hs 3,1).

29. Khi dân Chúa quên đi những điều răn Ngài truyền dạy, thờ ơ đối với người nghèo sống quanh họ, tìm kiếm sự an toàn từ các quyền lực ngoại bang, hoặc xoay qua thờ lạy ngẫu thần – lúc đó là họ ngoại tình và đàng điếm, những từ ngữ thích đáng dành để diễn tả sự bất trung của họ[12].

30. Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn kiên định. Đức Thánh Cha Phanxicô gần đây, khi suy niệm về đoạn sách Êdêkiel 16, lưu ý Thiên Chúa vẫn nói những lời yêu thương cả khi dân Israel bất trung với Ngài[13]. Israel phạm tội. Israel vô ơn. Israel đàng điếm chạy theo các ngẫu thần. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi dân đã giao ước với Ngài. Họ luôn có thể hối cải và được tha thứ. Lòng thương xót của Thiên Chúa hàm nghĩa Ngài hằng tìm kiếm điều thiện hảo cho dân Israel ngay cả khi họ trốn tránh Ngài. “Vì Đức Chúa đã gọi ngươi về, như gọi một người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm thần sầu muộn, như gọi một người vợ cưới lúc thanh xuân, bấy giờ đang bị ruồng bỏ, Thiên Chúa ngươi phán như vậy. Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp…nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót” (Is 54,6-8). Thiên Chúa vẫn nhẫn nại yêu thương dân Ngài, ngay cả khi chúng ta sa ngã phạm tội, ngay cả khi chúng ta cứ cứng lòng sống như không có Người.

31. Cách tương tự, tình yêu hay bác ái Kitô giáo sâu hơn những cảm xúc nhất thời rất nhiều. Nó gồm cả khía cạnh tình cảm và đam mê, nhưng nó cũng là một sự chọn lựa. Tình yêu là một sứ vụ chúng ta lãnh nhận, một sự sắp đặt mà ta chấp nhận, một lời kêu gọi chúng ta tự nguyện bước theo. Loại tình yêu này có những chiều kích mà ta có thể khám phá khi chịu nhượng bộ. Loại tình yêu này tìm kiếm và bước theo Thiên Chúa, mà nếu ta trung tín với giao ước của Ngài chúng ta sẽ học biết được thế nào là tình yêu. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi Israel để tìm một bạn tình hấp dẫn khác. Ngài cũng chẳng nản lòng khi bị khước từ. Ngài không bao giờ đổi dạ thay lòng. Ngài chỉ muốn điều tốt lành nhất, điều chân thật và điều thiện tối hậu cho dân Ngài. Và trong khi tình yêu của Ngài dành cho Israel cũng đam mê khát vọng (điều này không ai chối cãi nếu đọc các sách tiên tri) chính khía cạnh “dục tình” này trong tình yêu thần linh luôn được triển nở nhờ sự trung tín hy sinh của Thiên Chúa[14]. Tình yêu đam mê của Thiên Chúa luôn hợp nhất với lòng thương xót và kiên nhẫn của Ngài.

Hôn nhân, tình yêu và sự hy tế của Đức Kitô trên thập giá

32. Tình yêu của Thiên Chúa được đoạn 5 Thư gửi Tín hữu Êphêsô diễn tả rất sinh động, trong đó, thánh Phaolô quảng diễn hôn nhân tương tự như quan hệ giữa Chúa Kitô và Hội thánh[15]. Thánh Phaolô thúc dục người chồng và người vợ “hãy tùng phục lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô” (Ep 5,21). Bởi thế, hôn nhân Kitô giáo không phải là một sự thương lượng về quyền lợi và trách nhiệm, nhưng đúng hơn là một diễn tả sự tự hiến cho nhau của đôi vợ chồng. Về cơ bản nó khác xa rất nhiều thứ chủ nghĩa bình quyền thuần túy. Thánh Phaolô viết “người chồng là đầu của vợ như Chúa Kitô là đầu của Hội thánh” (Ep 5,23). Nhưng điều đó có nghĩa là gì xét theo ngữ cảnhtrong thực tế? Thánh Phaolô kêu gọi những người chồng hãy yêu thương vợ bằng một tình yêu tự hiến, phản chiếu tình yêu hiến tế của Chúa Kitô trên thập giá. Phá bỏ ý tưởng hẹp hòi “trọng nam khinh nữ” và bóc lột người phụ nữ, trái nghịch sâu xa với các luật gia đình khác của thế giới cổ đại, Thánh Phaolô dạy phải linh động theo hình ảnh Thiên Chúa: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh” (Ep 5,25). Rút ra từ đoạn 5 của Thư Êphêsô này, Hội thánh nói về hôn nhân như là một bí tích, và kêu gọi các cặp vợ chồng hãy sống hiệp thông trong tình yêu tự hiến như hi tế thập giá.

33. Đức Giêsu giúp các Kitô hữu nói một cách xác tín về tình yêu Thiên Chúa. Người tỏ bày giao ước của Thiên Chúa cho mọi dân tộc, bằng cách hoàn tất lịch sử của Israel như là một câu chuyện phổ quát về ơn cứu độ. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu tự hiến, bởi vì, chính Người, theo sát nghĩa của từ, là [Ngôi] Lời của Thiên Chúa mặc lấy xác phàm. Người yêu thương Hội thánh như tân nương của Người. Và chính tình yêu vô vị lợi này (được minh chứng bằng máu Người đổ ra trên thập giá) làm mẫu cho thứ tình yêu phục vụ lẫn nhau cần thiết trong mọi cuộc hôn nhân và gia đình Kitô giáo.

34. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI dạy: “Bởi chiêm ngắm cạnh nương long bị đâm thâu qua của Chúa Kitô, chúng ta có thể hiểu được làm sao … Thiên Chúa là tình yêu. Chính nơi đó sự thật này được chiêm ngắm. Và cũng phải từ đó mà chúng ta định nghĩa về tình yêu. Khi chiêm ngắm như thế, người Kitô hữu mới khám phá ra được con đường, trên đó cuộc sống và tình yêu của họ phải bước đi”[16].

35. Đối với nhiều người ngày nay, “tình yêu” chẳng qua chỉ là một cảm xúc nồng nàng hoặc một sự quyến rũ thể lý. Những yếu tố này có vai trò của nó. Nhưng tình yêu đích thực (là tình yêu biết kiên nhẫn, đi vào chiều sâu và có khả năng thỏa mãn con tim nhân loại suốt cuộc đời) lớn lên từ những gì chúng ta hiến ban cho tha nhân, chứ không phải từ những gì chúng ta chiếm hữu cho  mình. Chúa Giêsu Kitô đã chết trên thập giá để cứu độ chúng ta. Cái khả năng từ bỏ mọi đặc quyền đặc lợi của mình mà hiến thân cho tha nhân, một điều rất nền tảng và có sức giải phóng, là sợi chỉ nối kết toàn bộ giáo huấn công giáo về hôn nhân và gia đình. Giáo huấn công giáo đích thực về hôn nhân và gia đình phân biệt rõ ràng đâu là tình yêu đích thực và đâu là tình yêu giả tạo.

36. Thánh Kinh có nhiều cách diễn tả bổ sung cho nhau và trùng lấp về tình yêu của Thiên Chúa, nhưng trong các cách đó, tình yêu dưới hình thức hôn nhân được đề cập nhiều nhất. Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài (đầu tiên là với Israel sau đó là Hội thánh) thì tương tự như một cuộc hôn nhân. Cuộc hôn nhân này không phải luôn dễ dàng, nhưng tội lỗi nhân loại không bao giờ là tiếng nói cuối cùng. Sự trung tín của Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết thế nào là tình yêu đích thực và sự trung tín đích thực thì biểu lộ ra như thế nào. Đức Giêsu Kitô, chào đón mọi người chúng ta bước vào làm thành viên trong gia đình Thiên Chúa, đã cho chúng ta một định nghĩa mới và bất ngờ về tình yêu, cho ta những khả năng mới để được sống sung mãn.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Tại sao tình yêu Thiên Chúa giống như một cuộc hôn nhân?

2. Cách Thiên Chúa yêu thương khác với cách thức yêu thương của con người như thế nào?

3. Tình yêu đích thật là gì và làm sao chúng ta có thể nhận ra được nó? Bạn có thể kể ra một vài điểm giống nhau và khác nhau giữa tình yêu lãng mạn theo tập tục văn hóa của bạn với tình yêu giao ước của Thiên Chúa không ?

4. Bạn có thể nhớ về một thời gian nào đó trong lúc mà tình yêu của Thiên Chúa đã giúp bạn biết cách yêu thương chân thành hơn và tốt đẹp hơn không?



[1] ĐGH Bênêđictô XVI, Tđ. Deus Caritas Est (DCE) (2005), 11.

[2] Cf. thêm Mt 15,32-39; Mc 6,31-44; 8,1-9; Lc 9,10-17; Ga 6,5-15.

[3] ĐGH Benêđictô XVI, “Bài nói chuyện với các tham dự viên tại diễn đàn của các hiệp hội gia đình”, Rôma 16/05/2008.

[4] DCE, 11.

[5] Joseph Ratzinger, In the Beginning: a Catholic understandingn of the story of creation and fall, Wm. B. Eerdmans Publishing Co., Grand Rapids, MI, 1995, 30.

[6] DCE, 9.

[7] Cf. Ed 23.

[8] Cf. Is 50,1; 54,5; 61,10; 62,5.

[9] Cf. Gr 2,2; 3,1; 3,6-12; 31,32.

[10] Cf. Tv 45.

[11] DCE, 9.

[12] Cf. Xh 34,16; Tl 2,17; Ds 15,39; và Đnl 31,16.

[13] ĐGH Phanxicô, Bài Giảng, “Thánh lễ tại Nhà Nguyện Santa Marta – Khi một tình yêu thất bại”, Osservatore Romano, 28/02/2014.

[14] DCE, 5.

[15] Ep 5,21-33.

[16] DCE, 12. Cf. Ga 19,37; và 1Ga 4,8.

 

==================================================================================================================

TÌNH YÊU LÀ SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TA

ĐỂ GIA ĐÌNH SỐNG DỒI DÀO

Giáo lý chuẩn bị Đại Hội các Gia Đình Thế Giới

tại Philadelphia 2015


LỜI MỞ ĐẦU

          Chúng tôi hân hoan giới thiệu tập sách các bài giáo lý về đời sống gia đình này, do Tổng giáo phận Philadelphia và Hội đồng Tòa thánh về Gia đình soạn thảo, để chuẩn bị cho Đại hội Gia đình Thế giới lần thứ VIII sẽ diễn ra từ ngày 22- 27.09.2015 tại thành phố Philadelphia, Hoa kỳ.

          Tập giáo lý này giải thích giáo huấn công giáo về tính dục, hôn nhân và gia đình vốn phát xuất từ niềm tin cơ bản, tin vào Chúa Giêsu. Tập giáo lý này bắt đầu với trình thuật tạo dựng, trình bày tóm tắt về sự sa ngã và những thách đố chúng ta đang đối diện, nhưng nhấn mạnh kế hoạch của Thiên Chúa để cứu độ chúng ta. Tình yêu là sứ mệnh của chúng ta. Chính tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân đem đến cho chúng ta sự sống dồi dào.

            Công đồng Vaticanô II dạy rằng mỗi gia đình đều là một “hội thánh tại gia,” một tế bào nhỏ của Hội thánh lớn phổ quát. Tập giáo lý này giúp tìm hiểu ý nghĩa của điều đó. Chúng tôi mời gọi hết mọi người học hỏi các bài giáo lý này, cùng thảo luận với nhau, nhất là trong các giáo xứ, và cùng nhau cầu nguyện để Hội thánh biết có thể phục vụ cho các gia đình như thế nào, và để các gia đình biết có thể phục vụ Hội thánh như thế nào. Gia đình và Hội thánh hằng tùy thuộc lẫn nhau.

          Trong tập giáo lý này, chúng tôi cố gắng trình bày giáo huấn công giáo theo cách mới mẻ, rõ ràng, dễ hiểu đối với người công giáo hôm nay và tất cả những ai thành tâm thiện chí. Có thể nói tương tự theo cách diễn tả của thánh Augustinô trong quyển Tự Thuật (Confessions), Thiên Chúa vẫn là hôm qua, nhưng luôn luôn mới. Chúng tôi hy vọng bài giáo lý mới này trình bày cho anh chị em vẻ đẹp và tính xuyên suốt của giáo huấn công giáo, vốn là sự khôn ngoan cao cả tuyệt vời, và nguồn mạch dồi dào để canh tân trong mọi thời đại, kể cả thời đại chúng ta.

          Chúng tôi mong đợi cuộc quy tụ các gia đình từ khắp nơi trên thế giới tại Philadelphia. Để chuẩn bị cho sự kiện trọng đại này, chúng ta đặc biệt cầu xin Đức Maria và Thánh Giuse, phụ mẫu của Thánh Gia Thất, bổn mạng của các gia đình,  chuyển cầu cho chúng ta.

Tổng Giám Mục Charles J. Chaput, O.F.M. Cap.

Tổng Giáo Phận Philadelphia

                                 Tổng Giám Mục Vincenzo Paglia

Chủ tịch Hội đồng Tòa thánh về Gia đình

TÌNH YÊU LÀ SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TA

GIA ĐÌNH SỐNG DỒI DÀO

Toát yếu

          Hội thánh tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và Ngài yêu thương chúng ta. Chúng ta xác tín như thế bởi vì chúng ta đã gặp gỡ và tin vào Đức Giêsu Kitô. Niềm tin này từ đó mới có thể tạo ra mối tương quan trong đó kế hoạch của Thiên Chúa đối với tất cả mọi tạo vật được mạc khải và tỏ lộ cho chúng ta. Tin tưởng vào kế hoạch này, chúng ta có thể loan báo rằng mỗi người và mọi người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa tạo dựng chúng ta với một mục đích và cho một sứ mệnh.

           Chúng ta tin rằng trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã làm người. Chúng ta tin rằng trong Đức Giêsu, Thiên Chúa mời gọi và quy tụ toàn thế giới nhận biết Ngài và sống như dân giao ước của Ngài trong Hội thánh. Chúng ta tin tình yêu Thiên Chúa là hữu hình và tỏ lộ trong giao ước này, qua đó mạc khải Thiên Chúa là Đấng luôn trung thành đến mức chấp nhận ngay cả cái chết, mặc dù chúng ta bất trung và tội lỗi. Chúng ta tin Đức Giêsu đã chịu đau khổ, chết và sống lại từ cõi chết, trong khi xác nhận quyền năng và sự trung thành của Thiên Chúa, và xác tín con đường của Ngài là con đường đích thật. Chúng ta tin rằng, như là dân của giao ước Ngài, Đức Giêsu vẫn đang hiện diện với chúng ta dưới hình thái bí tích, và cuối cùng chúng ta sẽ chia sẻ vinh quang và sự hiệp thông trên trời với Người.

          Được nâng đỡ bởi Chúa Thánh Thần và các bí tích của Hội thánh, chúng ta tìm kiếm sự hiệp thông này, sự hiệp thông mà Đức Giêsu hứa ban là định mệnh của chúng ta. Chúng ta tin mọi khía cạnh của đời sống chúng ta (bao gồm tính dục, tính phong nhiêu và đời sống gia đình) là một phần sứ mệnh này để sống và yêu thương như Đức Giêsu đã dạy.

           Chúng ta tin rằng trong Bí tích Hôn phối, Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta ơn huệ sống kinh nghiệm giao ước của Ngài. Trong giao ước hôn nhân, chồng và vợ chung sống với nhau trong ánh sáng của giao ước đã được thiết lập giữa Thiên Chúa và dân Israel, giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chúng ta tin hôn nhân là mảnh đất phát triển đời sống gia đình, hạt nhân của Hội thánh tại gia, chính gia đình là thành phần thiết yếu của Hội thánh phổ quát rộng lớn hơn.

          Chúng ta cũng nhìn nhận rằng con người đã sa ngã, mọi hình thức đau khổ, cám dỗ và tội lỗi đè nặng trên chúng ta và ngăn cản chúng ta trở thành những tạo vật như Thiên Chúa mong muốn. Nhưng chúng ta tin rằng bất chấp những thử thách mà chúng ta đối diện, những thương tích mà chúng ta gây ra cho chính mình và cho người khác, Thiên Chúa luôn trung thành. Cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là bằng chứng quyết liệt Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước của Ngài. Đức Chúa đã cho chúng ta biết Ngài mạnh hơn mọi tội lỗi của chúng ta và Ngài đã chiến thắng tội lỗi. Khi gia đình cùng nhau chung sống, qua sự hiện diện của Chúa Giêsu và Thánh Thần ở giữa chúng ta, chúng ta tin Thiên Chúa sẽ làm trổ sinh hoa trái công việc mà Ngài đã khởi sự trong chúng ta. Hướng về ngày Chúa Giêsu đến lần thứ hai để thiết lập cách viên mãn vương quốc của Ngài trên trần gian, chúng ta tin sứ mệnh của chúng ta là làm chứng tá cho những gì Thiên Chúa đã làm và đang làm. Chúng ta tin sứ mệnh của chúng ta là yêu mến Thiên Chúa và người lân cận như Ngài đã dạy chúng ta.

          Chúng ta tin tình yêu là sứ mệnh của chúng ta, sứ mệnh này là con đường duy nhất chúng ta có thể sống dồi dào và trở thành những con người mang hình ảnh Thiên Chúa như đã được tạo dựng. Chúng ta tin tình yêu này cần phải được giáo dục, chia sẻ và chuyển giao trong và qua gia đình, hội thánh tại gia. Chúng ta tin gia đình chia sẻ sứ mệnh của toàn thể Hội thánh, và chúng tôi xin trao gửi việc diễn giải viễn cảnh tình yêu này cách chi tiết hơn cho tập sách giáo lý này.

MỤC LỤC

          Thánh Giáo phụ Irênê có câu nói lừng danh “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống dồi dào”.  Cũng có thể nói tương tự, vinh quang của người nam và người nữ là khả năng của họ để yêu thương như Thiên Chúa yêu thương. Cuộc sống trong một gia đình là lời mời gọi thể hiện tình yêu thương này trong đời sống hằng ngày.

          Điều mà người công giáo tin tưởng về cùng đích, hôn nhân và gia đình của con người – chính là nền tảng của tập giáo lý này để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ các gia đình trên thế giới tại Philadelphia năm 2015. Tập giáo này bao gồm 10 bước hoặc 10 chương :

I.     Được Dựng Nên ĐChung Hưởng Niềm Vui

          Con người chúng ta không chỉ là một tồn tại ngẫu nhiên của cuộc tiến hóa. Chúng ta có phẩm giá cao trọng còn hơn một xác thể tổng hợp về sinh học. Thiên Chúa hiện hữu. Ngài nhân lành. Ngài yêu thương chúng ta. Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài để chia sẻ niềm vui với Ngài. Ngài tích cực can dự vào cuộc sống chúng ta. Ngài đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để khôi phục lại phẩm giá và dẫn đưa chúng ta về Nhà với Ngài.

II.  Sứ Mệnh Yêu Thương

Thiên Chúa thực hiện công trình của Ngài qua chúng ta. Chúng ta có một sứ mệnh. Chúng ta đang sống trong một thế giới với một cùng đích, đó là đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, và tỏ lộ tình yêu ấy cho những người khác. Thiên Chúa tìm cách cứu chữa một thế giới đã đổ vỡ. Ngài mời gọi chúng ta làm chứng và giúp thực hiện công trình ấy.

III.          Ý Nghĩa Tính Dục Con Người

Thế giới vật chất hữu hình trần thế này không chỉ là một chất liệu bất động hay một thứ vật liệu đất sét làm nên ý chí con người. Tạo thành này là thánh thiêng và mang ý nghĩa bí tích. Tạo thành phản ánh vinh quang Thiên Chúa. Nó bao gồm cả thân xác chúng ta. Tính dục của chúng ta có năng lực truyền sinh, và thông phần phẩm giá của hiện hữu được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Chúng ta cần phải sống cho phù hợp  với phẩm giá đó.

IV.          Hai Nên Một

          Chúng ta đâu phải sinh ra để sống cô đơn. Chúng ta cần có nhau và bổ túc cho nhau. Tình bằng hữu và cộng đồng thỏa mãn niềm khát mong ấy bằng những mối dây liên kết cùng chung lợi ích và tình yêu. Hôn nhân là một thứ tình bằng hữu thân mật duy nhất thúc đẩy một người nam và một người nữ yêu  nhau theo cách thức của "giao ước Thiên Chúa". Hôn nhân là một Bí tích. Tình yêu vợ chồng phong nhiêu và được trao tặng cho nhau một cách trọn vẹn. Tình yêu này diễn tả sự thủy chung của Chúa Giêsu đối với Hội Thánh.

V.   Tạo Dựng Tương Lai

          Mục đích của hôn nhân là sự sống phong nhiêu và đón nhận sự sống mới. Con cái định hình nên tương lai y như chính chúng được định hình trong gia đình của chúng. Không có con cái, không thể nào có tương lai được. Trẻ được nuôi nấng trong tình yêu thương và sự dìu dắt là nền tảng cho một tương lai đượm thắm tình người. Trẻ bị tổn thương báo hiệu một tương lai bị thương tổn. Gia đình là nền tảng cho mọi cộng đồng lớn hơn. Các gia đình là những Hội thánh tại gia, là nơi cha mẹ giúp cho con cái khám phá được rằng Thiên Chúa yêu thương chúng và Ngài có một kế hoạch cho cuộc đời của từng đứa trẻ.

VI.          Mọi Tình Yêu Đều Mang Lại Hoa Trái

          Không phải mọi người đều được ơn gọi tiến đến hôn nhân. Nhưng đời sống nào cũng đều nhắm tới sinh bông kết trái. Đời sống nào cũng đều có năng lực và nhu cầu nuôi dưỡng sự sống mới – nếu không qua sinh sản và nuôi dạy con cái, thì cũng qua các hình thức sinh yếu khác nhằm dâng hiến bản thân, kiến tạo và phục vụ. Hội Thánh là một đại gia đình bao gồm những ơn gọi khác nhau, nhưng tuy khác biệt nhau, các ơn gọi này đều cần đến nhau và cũng đều nâng đỡ nhau. Đời linh mục, đời tu trì, và cuộc sống độc thân giữa đời đều làm phong phú, và được trở nên phong phú, nhờ chứng tá của đời sống hôn nhân. Những cung cách khác nhau để giữ đức khiết tịnh và đời sống độc thân bên ngoài đời sống hôn nhân đều là những lối tận hiến đời mình cho công cuộc phụng sự Chúa và cho cộng đồng nhân loại.

VII.       Ánh Sáng Trong Một Thế Giới Tăm Tối

         Ở tình trạng tốt nhất của hôn nhân, gia đình chính là trường học dạy yêu thương, công bằng, lòng trắc ẩn, sự thứ tha, sự tương kính, đức kiên nhẫn và đức khiêm tốn giữa lòng một thế giới tăm tối bởi thói ích kỷ và những xung đột. Theo những đường hướng này, gia đình dạy chúng ta biết cách sống làm người. Tuy nhiên, nhiều cám dỗ cứ xuất hiện cố gắng dụ dỗ chúng ta quên đi rằng người nam và người nữ  được tạo dựng nên để sống giao ước và hiệp thông với nhau. Sự nghèo đói, sự giàu có, văn hóa phẩm khiêu dâm, việc ngừa thai, những thứ triết lý và văn hóa lầm lạc, tất cả đều có thể tạo nên những bối cảnh thách đố hoặc đe dọa đời sống gia đình lành mạnh. Hội Thánh chống lại những thứ này để bảo vệ gia đình.

VIII.    Một Mái m Cho Những Trái Tim Mang Thương Tích

          Nhiều người, đặc biệt ngày nay, phải đối diện với những hoàn cảnh đau khổ, do đói nghèo, tàn tật, bệnh hoạn, nghiện ngập, thất nghiệp, sự cô đơn của tuổi già. Nhưng nạn ly dị và đồng tính luyến ái đã tác hại đến đời sống gia đình một cách sâu xa đặc biệt. Các gia đình Kitô hữu và toàn thể các gia đình phải là nguồn mạch của lòng nhân hậu, an toàn, thân thiện và nâng đỡ cho những ai đang phải chống chọi với những vấn đề này.

 

IX.          Bản Chất và Vai Trò của Hội Thánh: Là Người Mẹ, Người Thy, Gia Đình

          Hội Thánh có những hình thức cơ chế, vì Hội Thánh phải hoạt động trong trần thế. Nhưng điều này không làm mất đi yếu tính của Hội Thánh. Hội Thánh là Tân Nương của Đức Kitô, một “ngôi vị” chứ không phải một “cái gì đó”. Theo ngôn từ của Thánh Gioan XXIII, Hội Thánh là mẹ chúng ta, là thầy chúng ta, là đấng an ủi và hướng dẫn chúng ta, là gia đình đức tin của chúng ta. Ngay cả khi giáo dân và người lãnh đạo trong Hội Thánh phạm tội, chúng ta vẫn cần đến sự khôn ngoan, các bí tích, sự nâng đỡ và rao giảng chân lý của Hội Thánh, vì Hội Thánh là chính thân mình Chúa Giêsu tại trần thế - là gia đình của dân Thiên Chúa.

X.   Chọn SSống

          Thiên Chúa có lý do để dựng nên ta.Tình yêu của Ngài là sứ mệnh của đời ta. Sứ mệnh này giúp ta tìm thấy căn tính chân thực của ta. Nếu ta chọn đi theo sứ mệnh này, ta sẽ có được một viễn tượng mới về nhiều vấn đề, chứ không phải chỉ duy vấn đề gia đình mà thôi. Sống sứ mệnh của Hội Thánh tại gia có nghĩa là các gia đình công giáo đôi khi sẽ phải sống như những nhóm thiểu số, với những giá trị khác hẳn nền văn hóa chung quanh họ. Sứ mệnh tình yêu của ta sẽ đòi hỏi lòng can đảm và sự ngoan cường. Chúa  Giêsu đang mời gọi, và ta có thể đáp lại bằng cách chọn lấy đời sống của đức tin, đức cậy và đức mến, của niềm vui, phục vụ và sứ mệnh.

          “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người sẽ vô nghĩa,  nếu không được mạc khải về tình yêu, nếu không gặp tình yêu, nếu không trải nghiệm tình yêu và không làm cho tình yêu đó thành  của mình, nếu không dự phần một cách thâm sâu vào tình yêu đó. Đây chính là lý do tại sao Đức Kitô Cứu Chuộc “mạc khải đầy đủ về con người cho chính con người,” Có thể nói rằng đây là chiều kích con người của mầu nhiệm Cứu Chuộc. Trong chiều kích này, con người tìm lại được sự cao cả, phẩm giá,  và giá trị của nhân tính.”

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Redemptor Hominis, 10

04.03.1979

 

          Chúng ta sẽ suy tư đặc biệt về gia đình, vốn là tế bào căn bản của xã hội. Ngay từ ban đầu Thiên Chúa đã chúc lành cho người nam và nữ để họ sinh sôi nảy nở thật nhiều, do đó gia đình là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi nơi trần thế.

          Những suy tư của chúng ta phải gìn giữ được trước mắt chúng ta vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình, sự cao cả của thực tại nhân sinh này vốn thật đơn giản nhưng hết sức phong phú, bao gồm những niềm vui và hy vọng, những tranh đấu và đau khổ, giống như toàn bộ cuộc sống. Chúng ta cần phải đào sâu thần học về gia đình và phân định những thực hành mục vụ hoàn cảnh hiện nay của chúng ta đòi hỏi. Ước chi chúng ta suy tư một cách thấu đáo để không rơi vào “sự ngụy biện,” bởi vì sự thiếu nghiêm túc tất yếu sẽ làm suy giảm phẩm chất công việc của chúng ta. Ngày nay, gia đình đang bị xem thường và đối xử tồi tệ. Chúng ta được mời gọi để nhận biết vẻ đẹp, sự thật, và sự thiện hảo tuyệt vời biết bao khi bắt đầu một gia đình, khi thể hiện đời sống gia đình đích thực ngày hôm nay; và chúng ta cũng được mời gọi để nhận biết gia đình thiết yếu thế nào cho sự sống của thế giới, cho tương lai của nhân loại. Chúng ta được mời gọi để làm cho mọi người nhận biết kế hoạch tuyệt hảo của Thiên Chúa đối với gia đình và giúp các đôi vợ chồng trải nghiệm một cách hân hoan kế hoạch này trong đời sống của họ, trong khi chúng ta đồng hành với họ giữa rất nhiều những khó khăn.

Đức Thánh Cha Phanxicô

Những nhận xét cho Công nghị ngoại thường các Hồng y

20.02.2014


BÀI MỘT

ĐƯỢC DỰNG NÊN ĐỂ CHUNG HƯỞNG NIỀM VUI

Con người chúng ta không chỉ là một tồn tại ngẫu nhiên của cuộc tiến hóa. Chúng ta có phẩm giá cao trọng còn hơn một xác thể tổng hợp về sinh học. Thiên Chúa hiện hữu. Ngài nhân lành. Ngài yêu thương chúng ta. Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài để chia sẻ niềm vui với Ngài. Ngài tích cực can dự vào cuộc sống chúng ta. Ngài đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để khôi phục lại phẩm giá và dẫn đưa chúng ta về Nhà với Ngài.

Một hoạch định Sống và Tình Yêu hằng nâng đỡ chúng ta

1. Giáo huấn công giáo về hôn nhân và gia đình bắt nguồn từ tâm điểm của đức tin chúng ta. Do vậy, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách nhìn lại tiến trình lịch sử của Hội thánh. Thiên Chúa của chúng ta không phải là Đấng ở quá xa vời không chạm tới được. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã tỏ mình ra trong Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu chính là nguồn mạch của đức cậy trông, đức tin, đức mến và là nguồn vui làm sinh động đời sống gia đình công giáo. Đức Giêsu chính là nền tảng, dựa vào đó chúng ta có thể tin tưởng vào sự khôn ngoan của đức tin công giáo. Mọi điều được trình bày trong các bài giáo lý này đều xuất phát từ chính Đức Giêsu[1].

2. Như gần đây Đức Thánh Cha Phanxicô nói về đời sống hôn nhân: “Triển vọng về một tình yêu vĩnh cửu có thể thành hiện thực khi chúng ta đón nhận một kế hoạch vĩ đại hơn những gì bản thân ta tưởng nghĩ và đảm nhận, một kế hoạch hằng nâng đỡ và giúp chúng ta can đảm phó thác trọn vẹn tương lai của chúng ta cho Đấng chúng ta yêu mến”[2]. Nhưng chúng ta lại đang sống trong một thời đại mà con người thế gian thường hay hoài nghi về bất cứ kế hoạch vĩ đại nào hay ý nghĩa cao cả  vượt trên những kinh nghiệm của con người. Đối với nhiều người, thì con người chẳng qua chỉ là một tồn tại ngẫu nhiên của tiến hóa, là một tập hợp các nguyên tử carbon với một thái độ nào đó. Nói cách khác, nhiều người cho rằng, chúng ta không có một cùng đích nào cao trọng hơn những ý nghĩa do chính chúng ta tự tạo ra cho mình.

3. Trong một kỉ nguyên của công nghệ cao cấp và vật chất dồi dào như hiện nay, lối lí luận vô thần như thế có thể được tán dương. Nhưng chung cuộc, đó là một tầm nhìn quá hạn hẹp về con người của chúng ta, nam cũng như nữ. Lối tư duy ấy làm tổn hại nhân phẩm. Nó làm cho những linh hồn vốn đang đói còn phải chết đói. Lý luận như thế là không đúng.

4. Thực vậy, chúng ta luôn khao khát ý nghĩa cuộc sống. Khao khát về cùng đích cuộc đời là một kinh nghiệm nhân bản phổ quát. Con người luôn trăn trở với những vấn đề cơ bản như: “Tôi là ai?”, “Tại sao tôi có mặt ở đây?”, “Tôi phải sống như thế nào?”. Đức tin Kitô giáo xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải cổ xưa nơi pha trộn các nền văn hóa Hi lạp, La mã, Do Thái và các nền văn hóa khác nữa. Đó là một thế giới mà những giải đáp khác nhau cho vấn đề cơ bản của cuộc sống đang đấu tranh để chiếm ưu thế.

5. Hoàn cảnh của chúng ta ngày nay cũng giống như thế. Giống như trong thế giới xưa kia, các nền văn hóa ngày nay chồng lấp và thấm nhập lẫn vào nhau. Hiện nay, nhiều triết thuyết về cuộc sống đang đua nhau cống hiến những cách nhìn khác nhau về câu hỏi này: Điều gì làm cho cuộc sống con người được hạnh phúc? Trong lúc đó, đau khổ và nghèo đói thì đầy dẫy, và trong một số nền văn hóa cũng lan tràn thái độ hoài nghi yếm thế đối với bất cứ một tôn giáo hoặc một triết thuyết nào muốn cống hiến chân lý toàn diện và trói buộc người ta.

6. Thời đại của chúng ta là một thời đại rối rắm với nhiều giải đáp dị biệt như thế. Ngày nay, có nhiều người thành tâm tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc sống, nhưng chẳng biết phải đặt niềm tin vào ai và giao phó phận đời mình ở đâu.

7. Giữa tình trạng đầy những ngổn ngang ngờ vực như vậy, các Kitô hữu là những người tin vào Đức Giêsu Kitô[3]. Dẫu cho lịch sử nhân loại còn mập mờ, nhưng con đường vui mừng và hi vọng, yêu thương và phục vụ của đạo công giáo lại cắm rễ sâu trong cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu. Như thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố trong Thông điệp đầu tiên của ngài: “Trong lịch sử nhân loại, mạc khải về tình yêu và lòng thương xót đã được mang một hình hài và một danh tánh, đó là Đức Giêsu Kitô”[4]. Mọi sự đều phát xuất từ đó. Đức Giêsu Kitô là nền tảng của đức tin Kitô giáo[5].

Đức Giêsu mạc khải Thiên Chúa, và kế hoạch bắt đầu được tỏ lộ

8. Trong Thánh kinh, Đức Giêsu hỏi các môn đệ của mình: “Các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16,13-20). Lịch sử nhân loại hai ngàn năm qua đã đưa ra câu trả lời. Còn các Kitô hữu, sau khi đã gặp gỡ Chúa Giêsu bằng những phương cách khác nhau ( qua chứng từ của các thánh và các tông đồ, qua Thánh kinh và Bí tích, qua cầu nguyện và việc phục vụ người nghèo, qua việc thờ phượng và qua bạn hữu, gia đình) họ có thể tín thác vào Đức Giêsu, và cùng với thánh Phêrô tuyên xưng rằng: “Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16).

9. Trong số những điều Chúa Giêsu đã làm trên trần thế, có việc Ngài đã phải chịu đau khổ nhưng vẫn kiên trì trong yêu thương: Ngài đã chịu đóng đinh do tay người phàm và đã sống lại trong khải hoàn chiến thắng sự chết. Vì chính Thiên Chúa đã chịu đau khổ trong cuộc sống đời thường, nên người Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa không xa cách với thân phận con người. Chúng ta cũng không tin vào một vị thần linh có tính thất thường, hoặc tin một thứ thần linh thường cạnh tranh với con người. Thiên Chúa mà chúng ta tin thờ, luôn mong ước chúng ta được triển nở. Nhờ Đức Giêsu Kitô, Người Công giáo luôn tin tưởng vào tình yêu mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn giải trong Thông điệp đầu tiên của ngài:

Đối với những kẻ đang đau khổ, Thiên Chúa không trưng dẫn những lí chứng để giải thích hết mọi sự. Nhưng hơn thế, lời đáp trả của Ngài chính là sự hiện diện đồng hành, một lịch sử của lòng nhân từ chạm đến từng số phận đau khổ, và mở ra một ánh sáng chói ngời. Trong Đức Kitô, chính Thiên Chúa ao ước được chia sẻ bước đường này với chúng ta, và luôn đưa mắt nhìn đến chúng ta để chúng ta có thể nhìn thấy ánh sáng chiếu trên bước đường ấy. Chính Đức Kitô, nhờ kiên vững trong đau khổ, đã trở nên người khai mở và người kiện toàn đức tin chúng ta”[6].

10. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng, toàn bộ thần học Kitô giáo là một chú giải về sự kiện Thiên Chúa làm người, chết và trỗi dậy. Sự hiện diện của Thiên Chúa với thân xác con người nơi Đức Giêsu, hàm ý Đấng Tạo dựng siêu việt của thế giới này cũng là người Cha của chúng ta, hiện diện nội tại trong thế giới, rất thân tình và dịu dàng. Thiên Chúa Ba Ngôi luôn là một mầu nhiệm vô biên, thế nhưng, chính Thiên Chúa cũng đã làm một con người cụ thể trong một thời gian và một nơi chốn nhất định. Thiên Chúa đã trở nên mỏng manh bé bỏng như một hài nhi nằm trong máng cỏ hoặc một con người bị treo trên thập giá. Đức Giêsu đã dạy dỗ và nói năng, cười vui và khóc lóc. Cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Người cho ta hiểu rằng, mặc dù Thiên Chúa vô cùng mầu nhiệm, nhưng Người lại không mờ ảo xa vời. Chính Chúa Giêsu khiến cho chúng ta có thể nói về Thiên Chúa và về sự thật thần linh một cách thâm tín.

11. Chúa Giêsu nói về mình như là Con của Đức Chúa Cha, và cùng với Đức Chúa Cha, Người lại sai Thánh Thần của Người đến ở cùng dân Người. Do đó, từ nơi Người, chúng ta được biết bản tính của Thiên Chúa là sự hiệp thông vĩnh cửu giữa Ba Ngôi vị thần linh, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Qua bí tích Rửa tội cho ta gia nhập vào Hội thánh, Chúa Giêsu mời gọi mọi người thông phần vào Giao ước của Thiên Chúa và tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông thần linh. Lịch sử của dân Israel, và sau này lịch sử của Hội thánh Chúa, là một lịch sử có ý nghĩa phổ quát, vì nó mời gọi mọi người sống với tư cách là dân Thiên Chúa và thông dự vào sự hiệp thông thần linh.

Đức Giêsu mạc khải căn tính và số phận của con người

12. Đức Giêsu mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là ai, đồng thời cũng cho biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta và luôn muốn vươn tới gần chúng ta. Nhưng Đức Giêsu cũng mạc khải con người là ai. Công Đồng Vatican II, khi nói về Đức Giêsu với tư cách là “Ngôi Lời” của Thiên Chúa, dạy rằng: “Sự thật là chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể mầu nhiệm về con người mới được phơi bày ra ánh sáng”[7]. Chính trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta mới có thể học biết được sự thật về chính chúng ta. Sự thật đó, chúng ta không thể sáng tạo cũng không thể hiểu khác đi. Thánh kinh cũng đ từng đề cập: “Sự sống của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô” (Cl 3,3). Người công giáo tin rằng Thiên Chúa yêu thương thế gian (Ga 3,16), đến nỗi thay vì Thiên Chúa để chúng ta sống trong sự hiểu biết mơ hồ, Ngài đã mặc lấy xác phàm nhân để mạc khải cho con người biết Thiên Chúa là ai và con người là ai. Công Đồng Vatican II giải thích:

Lý do nền tảng của nhân phẩm là ở chỗ con người được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa. Ngay từ khởi thủy, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa. Bởi vì con người sẽ không hiện hữu nếu không được tạo dựng vì yêu thương và luôn luôn được gìn giữ cũng vì yêu thương. Và hơn nữa, con người chỉ sống trọn vẹn theo sự thật khi tự do nhìn nhận tình yêu ấy và hiến dâng bản thân cho ĐấngTạo Dựng nên mình[8].

Dịp Đại hội Gia đình Thế giới vừa qua tại Milan năm 2012, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cũng đã nhấn mạnh: “Chính tình yêu đã làm cho con người trở thành hình ảnh đích thực của Ba Ngôi Chí Thánh, hình ảnh của Thiên Chúa[9].

13. Cụm từ “Hình ảnh của Thiên Chúa” xuất xứ từ sách Sáng Thế (St 1,26-27; 5,1; và 9,6). Nó gợi lên ý tưởng là mỗi ngôi vị cá thể thật sự quí giá, có phẩm giá duy nhất và không thể giản lược. Có thể chúng ta lạm dụng hoặc sử dụng người khác hoặc chính bản thân mình, nhưng chúng ta không thể xóa bỏ sự thật này, là Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta như thế đó. Phẩm giá cơ bản của chúng ta không dựa trên sự thành công hay thất bại. Lòng nhân từ và Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta trổi vượt và cơ bản hơn rất nhiều tội lỗi con người. Hình ảnh của Thiên Chúa luôn ngự trị trong ta, cho dẫu chúng ta có làm gì khiến hình ảnh ấy bị lu mờ. Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là niềm vui và sự viên mãn đích thực của chúng ta hệ tại ở việc chúng ta có hiểu biết, yêu mến và phục vụ lẫn nhau như Thiên Chúa đã làm hay không.

14. Nói về con người, nam cũng như nữ, được tạo dựng theo “hình ảnh của Thiên Chúa”, điều đó có nghĩa là chúng ta không thể nói đến nhân bản mà lại không qui chiếu về Thiên Chúa. Nếu bản tính của Thiên Chúa là Ba Ngôi thông hiệp (giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần) và nếu chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh đó, thì bản tính của chúng ta phải là tùy thuộc lẫn nhau. Là người, chúng ta cần sống hiệp thông với nhau[10]. “Là một người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Ngài, thì phải hiện hữu trong tương quan, tương quan với một cái “Tôi” khác”[11]. Chúng ta hiện hữu cần có nhau, và cần có Thiên Chúa. Chúng ta cần ai đó để yêu thương và cần ai đó để yêu thương ta. Để sống đúng với bản tính được dựng nên, ta phải tự trao hiến chính mình cho người lân cận. “Làm một con người đúng nghĩa chỉ khi ‘chân thành tự hiến mình’.  Khuôn mẫu để hiểu về con người như thế là chính Thiên Chúa với tư cách như là Ba Ngôi, là sự hiệp thông giữa các Ngôi Vị. Nói rằng, con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, có nghĩa là con người được mời gọi hiện hữu ‘cho’ tha nhân, được mời gọi trở thành một tặng phẩm hiến trao”[12]. Để cứu lấy sự sống mình, chúng ta phải chịu mất mạng sống ấy vì Chúa (Mt 10,39; 16,25). Quan điểm thần học về nhân vị như thế phải là nền tảng cho toàn bộ thần học luân lý, trong đó có giáo huấn Hội thánh công giáo về gia đình.

15. Chúng ta có thể rơi vào ảo tưởng của sự tự mãn. Thế nhưng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa – và nếu chúng ta muốn sống tư cách làm con cái Thiên Chúa  đúng như bản chất thật của chúng ta, ta phải đón nhận lời kêu gọi của Thiên Chúa là yêu mến Chúa và yêu người lân cận. Cũng như Chúa Giêsu đã mạc khải bản tính của Thiên Chúa qua tình yêu và  hy sinh, thì cũng vậy, chúng ta cần phải chấp nhận nhân tính đích thực của ta cách sâu xa hơn, bằng cách sống những tương quan yêu thương và phục vụ đối với tha nhân và thờ phượng Thiên Chúa.

16. Trong khi bàn luận về phẩm giá con người, Công Đồng Vatican II đã lưu ý có nhiều người vô thần cho rằng “chỉ cần lí luận khoa học không thôi” cũng đủ để chỉ bảo cho chúng ta mọi điều chúng ta cần biết về chính mình, không cần phải qui chiếu về bất cứ sự gì bên ngoài thế giới tự nhiên này[13]. Nhưng người công giáo cho rằng thần học mới là cốt yếu cho nhân học. Nói cách khác, chúng ta tin rằng hiểu biết về Thiên Chúa và ý định của Ngài trong công trình tạo dựng là điều rất thiết yếu cho bất luận tri thức đầy đủ nào về con người. Người công giáo tin rằng việc Thiên Chúa tự mạc khải chính mình trong Đức Giêsu đưa chúng ta trở về với chính mình, mạc khải sự thật chúng ta là ai, đồng thời tỏ lộ cho ta biết (cách hết sức cơ bản) rằng chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là nền tảng cho căn tính của chúng ta, tình yêu ấy cơ bản  hơn bất cứ âu lo, tham vọng hay vấn nạn nào chúng ta gặp phải. Như Thánh Gioan Phaolô II đã dạy lúc đầu triều đại giáo hoàng của ngài: “Nếu như con người mong muốn tìm hiểu cặn kẽ về chính mình (mà không chiều theo những tiêu chuẩn và thước đo của mình, vốn có tính nhất thời, thiên tư, thường nông cạn và có khi ảo tưởng) nhất thiết nó phải đến gần Đức Kitô, dù đang xáo động, hoang mang, và thậm chí có yếu đuối và tội lỗi”[14].

17. Khi giảng dạy về hôn nhân, chính Chúa Giêsu qui chiếu về kế hoạch và ý định của Thiên Chúa về công trình tạo dựng. Khi những người Pharisêu thách thức hỏi Chúa Giêsu về vấn đề ly dị, câu trả lời của Người nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, và đôi vợ chồng trở thành một xương một thịt (Mt 19,3-12; Mc 10,2-12)[15]. Cũng vậy, khi Thánh tông đồ Phaolô viết thư cho các tín hữu thành Côrintô nói về đạo đức tính dục, ngài nhắc họ nhớ về sự kết hợp nên một xương một thịt giữa người nam và người nữ trong công trình tạo dựng (1Cr 6,16). Khi ngài viết cho các tín hữu Êphêsô về đạo vợ chồng, một lần nữa ngài nhắc họ sự kết hợp nên một này, và bảo họ rằng đó là một “mầu nhiệm sâu thẳm” muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh (Ep 5,32). Khi viết thư cho Hội thánh tại Rôma, ngài nói đến bản tính và ý định của Thiên Chúa được mạc khải trong tạo thành, và ngài cũng đề cập đến nhiều thứ tội (gồm cả tội về tính dục) những tội ấy đều xuất phát từ sự không nhận biết Thiên Chúa (Rm 1,8-32).

Yêu thương là sứ mệnh của gia đình

18. Đến đây ta cần giải thích rõ lý do tại sao “Yêu thương là sứ mệnh của chúng ta” là chủ đề cho Đại hội các Gia đình Thế giới năm 2015. Một trong những tài liệu của giáo hoàng rất quan trọng của thế kỷ 20 nói về chủ đề đời sống gia đình ( Familiaris Consortio, do thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II biên soạn) đã tóm tắt giáo huấn Hội thánh Công giáo về bản tính của Thiên Chúa và con người xác định ta phải sống thế nào cho phù hợp với đức tin công giáo:

Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Ngài. Khi vì yêu thương mà kêu gọi con người bước vào cuộc sống, Ngài cũng đồng thời kêu gọi họ sống cho tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu và nơi chính mình Ngài, Ngài đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng loài người theo hình ảnh Ngài và liên lỉ bảo tồn nó luôn hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào nhân tính của người nam và người nữ, ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời  gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Như vậy, tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người[16].

Tình yêu Thiên Chúa không bao giờ ngừng mời gọi chúng ta. Chúng ta không thể coi thường lời mời gọi này. Chúng ta đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Cho dẫu con người đã thực sự phạm tội, nhưng ơn gọi tiềm ẩn trong tạo thành vẫn không bao giờ có thể bị xóa mất.

19. Cái nhìn của Công giáo về hôn nhân, gia đình và tính dục thuộc về một sứ mệnh lớn lao hơn. Đó là phải sống như thế nào để tình yêu Thiên Chúa được tỏ hiện và chiếu giải; sống sứ mệnh này sẽ làm cho cuộc sống thường nhật của chúng ta trở nên sinh động với niềm vui của Thiên Chúa. Toàn thể con người (thân xác và linh hồn, giới tính nam và nữ với tất cả những hệ lụy kèm theo) đều được Thiên Chúa mời gọi can dự vào. Phụ đề của Đại hội Gia đình Thế giới lần này là “Gia đình được sống dồi dào” có lý do chính đáng. Gia đình được sống dồi dào nhất khi chúng ta đảm nhận lấy lời mời gọi của Thiên Chúa làm con cái như Ngài mong ước khi tạo dựng chúng ta.

20. Thời đại của chúng ta là một thời đại rối rắm và bất trắc. Đức Giêsu Kitô là một cứ điểm chắc chắn cho ta đặt niềm tin cậy. Phẩm giá con người được bảo đảm vững chắc nơi Đức Giêsu, Đấng Thiên Chúa làm người. Đức Giêsu mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là ai và chúng ta là ai. Nơi Đức Giêsu, chúng ta gặp một Thiên Chúa luôn muốn gần gũi chúng ta, Đấng tạo dựng sự hiệp thông và mời gọi chúng ta chia sẻ niềm vui với Ngài. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi hiệp thông với Ngài và với nhau. Tình yêu này là cùng đích và định hình cho mọi khía cạnh của cuộc sống con người, bao gồm gia đình.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

a) Điều gì nơi Đức Giêsu làm cho Người đáng tin cậy?

b) Điều gì trong cuộc đời của anh chị làm anh chị xa rời Đức Giêsu? Điều gì giúp anh chị trở nên thân thiết hơn hoặc thâm chí thâm tình hơn với Người?

c) “Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa” có nghĩa là gì? Có thể hiểu biết  căn tính con người mà không cần có Thiên Chúa không? Tại sao không hoặc tại sao có?

d) “Yêu thương là sứ mệnh của chúng ta” là chủ đề của các bài giáo lý này. “Tình yêu” có nghĩa gì trong cuộc sống của anh chị? Một sứ mệnh yêu thương có thể ảnh hưởng thế nào đến những chọn lựa, những ưu tiên và ước vọng của anh chị?



[1] Cf. Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLHTCG) (1992), 425-427.

[2] ĐGH Phanxicô, Tđ. Lumen Fidei (Ánh sáng Đức tin) (LF) (2013), 52.

[3] Cf. LF 57.

[4] ĐGH Gioan Phaolô II, Tđ. Redemptor Hominis (Đấng Cứu Chuộc Con người) (RH) (1979), 9.

[5] Cf. GLHTCG, 426.

[6] LF, 57. Cf. Dt 12, 2.

[7] CĐ Vatican II, Hc mục vụ Gaudium et spes (Vui mừng và Hi vọng) (GS) (1965), 22.

[8] GS, 19.

[9] ĐGH Bênêđictô XVI, “Bài giảng thánh lễ”, Đại hội Gia đình Thê giới lần thứ VII, Milanô, 02/06/2012.

[10] GLHTCG, 2331.

[11] ĐGH Gioan-Phaolô II, Tông thư Mulieris Dignitatem (Phẩm giá người phụ nữ) (MD) (1988), 7.

[12] MD, 7.

[13] GS, 19.

[14] RH, 10.

[15] Cf. St 1,26-27; 2,24.

[16] ĐGH Gioan Phaolô II, TH. Familiaris Consortio (FC) (1981), 11. Cf. St 1,26-27; 1Ga 4,8; và GS 12.

MỘT HỘI THÁNH TRONG KÍN ĐÁO

1. Được sống lâu  năm trong cảnh âm thầm, tôi dễ nhận ra nhiều ơn Chúa ban cho tôi. Một trong những ơn Chúa ban mà tôi coi là rất trọng, đó là được nhìn thấy rõ hơn một Hội Thánh trong kín đáo.

Một Hội Thánh trong kín đáo gồm những người làm các việc lành một cách kín đáo, và sống mật thiết với Chúa một cách kín đáo. Họ được Chúa yêu thương và khen thưởng. Kín đáo ở đây chính là khiêm nhường.

Read more...

KINH MÂN CÔI ĐỐI VỚI TÔI HÔM NAY

1. Tôi cầu nguyện rất nhiều bằng chuỗi Mân Côi. Vừa đọc kinh, vừa suy gẫm, vừa khao khát Chúa, tôi lần chuỗi Mân Côi như làm một việc thờ phượng Chúa bên Đức Mẹ.

Khi tôi cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, tôi tin Mẹ cùng cầu nguyện với tôi. Nhờ vậy, tôi đã được Mẹ cho tôi được gặp gỡ Chúa. Chúa và Mẹ đã dạy tôi rất nhiều điều trong chuỗi Mân Côi. Ở đây, tôi chỉ xin được nói lên mấy điều tôi cho là quan trọng, đang ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi, nhất là trong tình hình hiện nay.

Read more...

Đức Thánh Cha tiếp kiến 94 Giám Mục mới thuộc các xứ truyền giáo, có 4 GM Việt Nam

VATICAN. ĐTC khích lệ các GM thực thi sự ”hoán cải truyền giáo”, sống và hành động giữa Dân Chúa như những người phục vụ.

Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi tiếp kiến dành cho 94 GM thuộc 49 quốc gia, thụ phong trong thời gian gần đây, vừa kết thúc khóa bồi dưỡng 2 tuần lễ ở Roma, do Bộ truyền giáo tổ chức. Trong số các vị có 4 GM Phụ Tá của Việt Nam: Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo (Xuân Lộc), Đức Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long (Hưng Hóa), Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên (Vinh) và Đức Cha Giuse Trần Văn Toản (Long Xuyên).

Read more...

Một thoáng nhìn về HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG CHIA SẺ

1. Đã từ lâu tôi cố gắng viết những bài chia sẻ. Những bài này có rất nhiều giới hạn. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn cảm tạ Chúa vì đã thương ban ơn giúp tôi dâng lên Người những lễ vật bé mọn, hợp với thân phận hèn mọn của tôi.

Hôm nay, với tâm tình biết ơn, tôi xin được phép chia sẻ về hành trình chuỗi dài chia sẻ của tôi.

Read more...

ƠN GỌI TỪ NHỮNG MẢNH ĐẤT

1. Đã lâu rồi, tôi hay nghĩ đến sự chết. Tôi nghĩ đến sự chết của những người khác một cách thấm thía. Tôi nghĩ đến sự chết của tôi một cách sâu xa, như một biến cố duy nhất nghiêm trọng, sẽ chỉ xảy ra một lần với hậu quả đời đời vô cùng vô tận.

Nghĩ đến sự chết, tôi thường nghĩ đến đất là nơi đón nhận mọi người chết. Tự nhiên tôi yêu thích đất. Có một sức thiêng thúc giục tôi hãy cầu nguyện, xin Chúa cho tôi ngay từ bây giờ, hãy là mảnh đất tốt trước mặt Chúa.

Read more...
  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  8 
  •  9 
  •  10 
  •  Next 
  •  End 
  • »
Page 1 of 26